BỆNH VIÊM XOANG

Xoang là những hốc xương rỗng nằm trong khối xương xọ mặt ,ở xung quanh hốc mủ và thông với hốc mũi.Các hốc xương này được lót bởi lớp niêm mạc giống như hốc mủ ,đó là niêm mạc đường hô hấp .

Viêm xoang là bệnh rất thường gặp ở nước ta , chiếm tỷ lệ 2 - 5 % dân số có xu hướng ngày 1 tăng lên .Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi ,không phân biệt về giới
Xoang bị viêm rất sớm nhất ,ngay từ khi mới sinh ra ,là xoang sàng , xoang hàm thường bị viêm từ lúc 4-5 tuổi  các xoang khác thường bị viêm muộn hơn .
   
bệnh viêm xoang
Bệnh viêm xoang




Các yếu tố gây bệnh viêm xoang rất nhiều : môi trường ô nhiễm ,thời tiết thay đổi , điều kiện ăn ở , nơi làm việc  , hóa chất độc hại , khói bụi , nghề nghiệp ...

Bệnh viêm xoang thường kết hợp với viêm mũi ,ít gặp viêm xoang đơn độc  nên hiện nay thường gọi là  viêm xoang mũi.

 Nguyên nhân gây bệnh viêm xoang :
+ viêm xoang do vi khuẩn : là nhiễm khuẩn vùng mũi họng đây là nguyên nhân hay gặp nhất : như viêm họng ,viêm VA ở trẻ em , viêm amidan , và viêm mũi .
- Do răng : các bệnh ở răng lợi như : viêm lợi , sâu răng , viêm tủy ..đều rất dễ gây xoang hàm .

+do vi rus : rất hay gặp
+ do dị ứng :cơ địa dị ứng mũi xoang dễ đưa tới  viêm xoang mãn tính .
+ do chấn thương : các chấn thương vỡ xoang hay tụ máu trong xoang đều có thể gây viêm xoang , ngoài ra các chấn thương về áp lực có thể xuất huyết , phù nề niêm mạc , rồi gây ra viêm xoang , cũng có thể chấn thương làm bít lấp lỗ thông xoang dẫn tới viêm xoang .
+ các nguyên nhân cơ học : dị hình vách ngăn các khối u trong xoang và hốc mủ
+ Hội chứng trào ngược dạ dày-thực quản : do dịch acid ở dạ dày trào ngược lên thực quản , họng , thanh quản , gây ra viêm nhiễm vùng mũi họng trong đó có viêm xoang .
+ do cơ địa : ở những người xuy nhược toàn thân , rối loạn nội tiết như : tiểu đường ,rối loạn về vận mạch rối loạn về nước và điện giải thường dễ bị viêm xoang .

 * Triệu chứng nhận biết của bệnh viêm xoang :

 + Đau nhức : Vùng bị nhức tùy theo xoang bị viêm
+. Xoang hàm : Nhức vùng má.
+ Xoang trán : Nhức giữa 2 lông mày. Có giờ nhất định, thường là 10 giờ sáng.
+ Xoang sàng trước : Nhức giữa 2 mắt.
+ Xoang sàng sau : Nhức trong sâu, nhức vùng gáy.

+ Viêm xoang mãn tính : thường có biểu hiện không rõ rệt ngoài những biểu hiện mệt mỏi ,cơ thể xuy nhược hoặc những rối loạn đường hô hấp hay đường tiêu hóa do mủ xoang gây nên ,nếu viêm xoang kéo dài

+ Chảy mũi: chảy 1 hoặc hai bên thường là 2 bên  lúc đầu chảy mủ nhầy trắng , sau chảy dịch đặc xanh , hoặc vàng mùi tanh hoặc hôi thối do bội nhiễm , mủ thường chảy ra của mũi sau xuống họng hoặc xì ra cửa mũi trước .

+ Viêm dị ứng: Chảy mũi trong rất nhiều.
+ Viêm do vi khuẩn: Chảy mũi đục, có khi như mủ. Viêm các xoang trước, chảy ra mũi trước. Viêm các xoang sau, chảy vào họng.

+ Nghẹt mũi:  Có thể nghẹt 1 bên, có thể nghẹt cả 2 bên.

+ Ngứa mũi: Dị ứng mũi xoang.

+ Điếc mũi: Ngửi không biết mùi. Thường là viêm nặng, phù nề nhiều, mùi không len lỏi lên đến thần kinh khứu giác.

* Viêm xoang khó phát hiện: Không có các triệu chứng trên, hoặc chỉ có một triệu chứng đơn độc mà thôi.
* Viêm xoang dễ phát hiện: Có ít nhất 3 triệu chứng trên.
* Trường hợp đặc biệt : Viêm xoang hàm do răng. Chỉ xoang hàm một bên viêm nặng mà thôi do vi khuẩn từ sâu răng đưa vào xoang. Mủ chảy vào mũi, rất hôi.

* Những biến chứng nguy hiểm của bệnh viêm xoang :
- Viêm xoang cấp có thể điều trị khỏi được nếu được loại trừ nguyên nhân và dẫn lưu xoang tốt , tránh ứ đọng trong xoang bệnh cũng có thể trở thành viêm xoang mãn tính nếu không được điều trị tốt .

-viêm xoang mãn tính tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe ,sinh hoạt và khả năng lao động .

Viêm xoang có các biến chứng khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, vị trí bị viêm nhiễm. Cơ địa bệnh nhân (suy giảm miễn dịch, mắc các bệnh mãn tính như đái tháo đường, bệnh polype mũi, lệch vách ngăn mũi) hoặc quá trình điều trị không tốt …cũng tạo điều kiện cho các biến chứng xảy ra.

Các tác nhân gây nên biến chứng chủ yếu là cầu khuẩn Streptococcus, Stapylocossus,trường hợp do nấm rất hiếm khi gặp phải. Quá trình viêm lan tỏa trực tiếp từ xoang đến các cơ quan lân cận qua đường giải phẫu tự nhiên và hệ thống mạch máu, các xoang tĩnh mạch phong phú ở vùng mặt. Quá trình viêm tắc mạch những cục máu đông đó có thể “hành quân” qua các tĩnh mạch của xương sọ, xương sàng hoặc các tĩnh mạch thông. Các quá trình đó thường gây biến chứng cho mắt, biến chứng nội sọ(màng não – não), nhiễm trùng máu.

+Những biến chứng ở mắt :

Thường hay gặp, do phía trước hốc mắt là xoang hàm, phía trên là xoang trán, phía trong là xoang sàng và xoang bướm. Nhiễm trùng ổ mắt do viêm xoang trong 85% trường hợp thì có khoảng 10% sẽ bị mù. Nguyên nhân chủ yếu là do viêm xoang sàng, một số ít là viêm xoang hàm, với xoang trán thì ít gặp hơn. Quá trình viêm nhiễm lan tỏa hoặc theo đường mạch máu từ xoang qua hốc mắt gây nên các biến chứng tại mắt.
+Viêm hốc mắt

Thường gặp là do viêm xoang cấp tính. Bệnh nhân đau nhức mắt dữ dội, đau xuyên lên đỉnh đầu. Mi mắt sưng phù. Viêm nhiễm có thể lan cả vùng thái dương khiến khó khám nhãn cầu và đánh giá mức độ lỗi mắt. Việc tham khám lâm sàn vô cùng quan trọng nhằm đánh giá là viêm mô liên kết đơn thuần (chỉ cần điều trị kháng sinh) hay đã có sự tụ mủ trong hốc mắt (cần phải phẫu thuật). Chỉ định phẫu thuật khi có một trong ba dấu hiệu sau đây :
- Nhãn cầu cố định do liệt vận nhãn
- Giãn đồng tử do liệt
- Mất cảm giác giác mạc

+ Biến chứng mũi họng : viêm mũi mãn tính, rất hay gặp do viêm xoang mãn tính gây nên , biến chứng tai : viêm tai giữa cấp 

+Viêm dây thần kinh
thị giác

Gặp đến 60% trường hợp do viêm xoang sàng sau và xoang bướm.
Đột nhiên, thị lực bệnh nhân giảm hẳn mà khám chuyên khoa mắt, soi đáy mắt không tìm thấy nguyên nhân. Biểu hiện bệnh lý xoang cũng rất khó nhận biết : không ngạt mũi, không sổ mũi, ít khi nhức đầu. Có thể có ít dịch chảy xuống họng từ khe trên. Thị lực có thể giảm kéo dài hoặc phục hồi nhanh nếu được điều trị tốt, đặc biệt là phẫu thuật nạo xoang sàng

+Áp-xe túi lệ :

Tình trạng này thường gặp trong viêm xoang cấp do xương lệ mỏng và có ống lệ tỵ thông mắt với mũi xoang. Biểu hiện, góc trong mắt sưng nề, đỏ , lan đến mi mắt và toàn bộ kết mạc. Bệnh nhân sốt và nhức mắt, khi mủ vỡ ra thì có thể hết nhức và có thể tạo ra lỗ dò mạn tính sau nàyÁp-xe mi mắt : Do viêm xoang trán hoặc xoang sàng gây áp-xe mi trên, hay viêm xoang hàm gây áp-xe mi dưới. Mí mắt sưng to, nóng, đỏ, đau, kết mạc xung huyết. Túi mủ sẽ vỡ ra sau 4 – 5 ngày.

+ biến chứng nội sọ :

Có thể gặp các trường hợp viêm màng não, tụ mủ dưới màng cứng, áp-xe ngoài màng cứng, viêm tắc xoang tĩnh mạch dọc trên, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang và áp-xe não. Nguyên nhân có thể do viêm xoang cấp hoặc mạn.
Các dấu hiệu thường gặp là hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc nặng và hội chứng tăng áp lực nội sọ : sốt cao, nhức đầu, sợ ánh sáng, tinh thần trì trệ, buồn nôn, cổ cứng. Tuy nhiên đôi khi triệu chứng rất lu mờ nếu tổn thương chỉ ở thùy trán , chỉ thay đổi nhân cách chút ít

+ Biến chứng xương :

Thường gặp là viêm cốt tủy xương trán hay xương hàm trên. Nguyên nhân do viêm tắc mạch máu ở xương. Bệnh bắt đầu từ xương trán, sau lan ra xương thái dương, xương đỉnh. Biểu hiện với đau nhức xương trán tại một điểm, sưng tấy vừng xương trán và sau đó tạo thành một áp-xe tại đây. Rạch tháo mủ thấy xương trán biến thành màu xám dễ chảy máu

+ Một vài biến chứng khác có thể thường gặp :

Trong viêm xoang mạn có thể nhiễm trùng huyết, viêm họng mạn tính do dịch hoặc mủ chảy xuống họng gây viêm tại chỗ , ho khạc đờm có khi có cả máu, biểu hiện như ” lao phổi giả” hoặc “viêm phế quản”.
Ngoài ra viêm xoang còn gây ra các phiền toái khác như khụt khịt rất khó chịu, làm cho bệnh nhân luôn tránh đám đông,nhức đầu,ê ẩm mất tập trung khi làm việc

+ Viêm thận 
Share on Google Plus
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét